Văn Hóa

Văn hóa truyền thống các khu/điểm tái định cư thủy điện Lai Châu: P1- Xã Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu

Văn hóa truyền thống các tộc người thiểu số vùng lòng hồ thủy điện Lai Châu mang tính đa dạng, phong phú. Để hiểu rõ hơn đặc điểm của văn hóa truyền thống các tộc người trong vùng lòng hồ, Ban quản trị sưu tầm và giới thiệu về văn hóa truyền thống các khu/điểm tái định cư thủy điện Lai Châu- P1: Xã Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

1.  Khái quát về địa lý, dân số, tộc người

 Xã Mường Tè nằm ở bên trái sông Đà, cách huyện lỵ Mường Tè gần 40 km. Xã có 8 bản với các tên gọi:

  • Bản Giẳng
  • Bản Bó
  • Bản Củm
  • Mường Tè
  • Bản Đon Lạt
  • Bản Nậm Hủa
  • Bản Pắc Ma
  • Bản Nậm Pặm

Tổng số dân toàn xã là 3956 người cư trú trong 915 hộ.

Trước năm 1980 xã là địa bàn cư dân thuần Thái. Vài chục năm gần đây xã tiếp nhận một số tộc người khác đến cư trú. Hiện tại xã là nơi cư trú của 5 tộc người: Người Thái, người Giáy, Người Hà Nhì, người La Hủ, người Kinh.

Mường Tè là địa phương đa tộc người. Nhưng người Thái là tộc người có dân số đông, có thời gian cư trú lâu đời hơn cả; nên nét nổi trội hơn cả trong văn hóa ở xã Mường Tè là văn hóa Thái nên nó mang tính tiêu biểu, đặc trưng của vùng đất này. 

Mường Tè nằm bên bờ trái sông Đà, xung quanh núi non bao bọc điệp trùng; suối khe luồn lách và tất cả đều châu tuần ra sông Đà. Những ngọn núi, con suối ở xã Mường Tè có tên gọi và ý nghĩa cơ bản như sau:

  • Suối Nậm Củm: có mạch ngầm từ Pa Ủ đồ về Mường Tè và chảy ra sông Đà. Nậm Củm theo tiếng Thái có nghĩa là suối có cá.
  • Suối Nậm Ma: suối Nậm Ma nằm ở địa phận bản Giẳng. Suối có đặc điểm thường xả ra khô cạn (đặc biệt là về mùa khô). Từ đặc điểm khi có nước khi không có nước nên dân gian gọi tên suối là Nậm Ma.
  • Suối Nậm Khăm: suối này có nhiều sa khoáng. Người dân nói rằng nuôi thả vịt trên sông chừng một đến hai năm, khi thịt vịt mổ mề ra thường thấy có những vẩy vàng nên đặt tên suối như trên có nghĩa là: suối có vàng.
  • Suối Nậm Thía: người Thái đứng ở dưới thung lũng vị trí trung tâm xã (nơi đặt UBND xã hiện nay) có thể nhìn thấy suối từ trên cao đổ xuống nên đặt tên suối như trên có nghĩa rằng: suối nhìn thấy.

Núi ở Mường Tè chập trùng, nối tiếp nhưng chỉ có một số con suối có tên gọi và mang ý nghĩa cơ bản như sau:

  • Núi Pù chì: đất ở núi này có nhiều chất chì (so với các núi lên cận) nên núi có tên gọi như trên có nghĩa rằng: núi có nhiều chì.
  • Đồi Pháp: đây là ngọn đồi trước năm 1954 người Pháp đã dựng đồn bốt.
  • Pù Luồng: ngọn núi này có 3 mỏm. Truyền thuyết lưu truyền trong dân chúng địa phương rằng: xưa kia vào những đêm trăng đẹp, người ta thường nhìn thấy những con rồng bay lượn từ mỏm núi này sang mỏm núi kia nên gọi tên là Pù Luống; theo tiếng Thái có nghĩa rằng: núi rồng bay.
  • Pù Xé: đây là ngọn núi đất và thường hay sạt lở khi có mưa to, theo tiếng thái có nghĩa rằng: núi hay sạt lở.
  • Pù Loòng Mu: ngọn núi nằm bên con suối Pu Loòng nên gọi tên núi theo tên suối
  • Pù Mẹo: tương truyền rằng ở núi này trước đây đã có người H’Mông đến ở, rồi họ lại dời đi nơi khác, bởi vậy người Thái ở địa phương mới đặt tên cho núi là Pù Mẹo nghĩa rằng: núi người H’Mông ở.
  • Pù Đanh: ngọn núi này đá có sắc đỏ hơn so với những ngọn núi khác. Tiếng Thái có nghĩa rằng: núi có sắc đỏ.

Tên ruộng ở xã Mường Tè có một số khu ruộng có tên gọi như sau:

  • Nà Hang: truyền thuyết địa phương còn lưu truyền rằng: khi dòng họ Tống khai hoang, khẩn đất để lập bản, dựng mường bò tót thường hay về phá nương, phá ruộng. Trong một lần săn đuổi bò tót đến khu đất này họ bị lạc đường nhưng lại phát hiện ra khu đất tốt. Họ khai khẩn khu đất này để cấy trồng và đặt tên cho đất là Nà Hang, nghĩa rằng: nơi người đuổi con bò tót đến đây thì bị lạc đường.
  • Pú Đanh: cánh đồng này đất có màu đỏ.
  • Khá Cướm: trên cánh đồng này xưa có nhiều cây trám.
  • Pụ Xị: đặc điểm của cánh đồng này có nhiều đá lẫn vào trong đất khó canh tác.
  • Noong Há: cánh đồng khá bằng phẳng, dễ canh tác đặc biệt là trong việc tưới tiêu nước.

​2.  Những nét văn hóa đặc trưng của các tộc người ở xã Mường Tè

Hiện tại ở Mường Tè có nhiều tộc người cùng cư trú (Thái, La Hủ, Hà Nhì…). Mỗi tộc người có sắc thái văn hóa riêng. Dưới đây chúng tôi chỉ trình bày những nét đặc trưng của văn hóa các tộc kể trên ở Mường Tè (sự chuyên sâu xin xem trong các chuyên đề).

2.1. Người Thái

Người Thái ở Mường Tè xã có 2633 người cư trú trong 617 hộ. Người Thái ở địa phương này cho rằng họ có nguồn gốc từ Vân Nam, Trung Quốc. Dòng họ đến định cư ở Mường Tè sớm nhất là họ Tống (đây cũng là dòng họ lớn nhất ở địa phương). Theo lời ông Tống Văn Cuốm dòng họ ông có công khai khẩn mở ra mường này và đã định cư ở đây tới đời ông là đời thứ 4, tính đến đời các cháu ông là đời thứ 6.

Người Thái ở Mường Tè xã có các họ sau: Tống, Lò, Lý, Mào.

Người Thái ở Mường Tè ở thấp hơn các tộc người khác như Giáy, Hà Nhì… Không gian ở của họ là các thung lũng nhỏ như bản Cướm, bản Cúm, Đon Lạt, Mường Tè… bản lớn nhất là Mường Tè có 135 hộ với số dân 568 người. Không gian sống của họ được hoạch định khá rõ ràng: nơi ở, nơi trồng cấy, nơi chăn thả, bến nước, rừng ma. Nhà ở thường tựa lưng vào núi. Kiến trúc nhà của người Thái ở Mường Tè vẫn bảo tồn được khá nguyên vẹn kiến thức kiến trúc truyền thống của người Thái Trắng vùng Tây Bắc Việt Nam. Sự biến đổi của kiến trúc thể hiện rõ nhất ở thành phần vật liệu lợp mái. Hầu hết các ngôi nhà ở đây đều được lợp bằng tôn. Đây cũng là biến đổi chung của bộ mái nhà các tộc người vùng cao. Điều này như một lẽ tự nhiên do những tiến bộ của khoa học - kỹ thuật và giao thông, giao thương đem đến. Mái tôn với ưu thế: bền, rẻ, nhẹ tránh được hỏa hoạn do vậy đã nhanh chóng được đồng bào tiếp nhận thay thế cho mái tranh truyền thống (nguồn nguyên liệu ngày một cạn kiệt do rừng ngày một thu hẹp). Ngoài sự biến đổi cơ bản nêu trên đây đó cũng có một số sự biến đổi nhỏ trong một đôi thành phần kiến trúc ở một số ngôi nhà: như cầu thang, sân phơi được tạo dựng bằng chất liệu bê tông cốt thép. Cách bày đặt trong nội thất nhà không có nhiều biến đổi (đặc biệt là nơi ngủ, nghỉ). Sự biến đổi thường có ở không gian tiếp khách. Nơi này đã xuất hiện nhiều đồ dùng, cách trang trí mang tính thời trang như: tủ, tivi, bàn ghế, tranh ảnh. Biến đổi rõ nét nhất trong nội thất nhà người Thái ở Mường Tè là gầm sàn. Gầm sàn không còn là nơi nuôi nhốt gia súc như truyền thống. Nó hiện thường là nơi để đồ gia dụng, đã có một số gia đình sửa sang biến gầm sàn thành nơi vui chơi cho trẻ nhỏ, nơi làm một số công việc trong gia đình thường ngày.

  • Cách thức canh tác

Người Thái ở Mường Tè vẫn giữ cách thức canh tác truyền thống là trồng lúa nước trên những cánh đồng, vạt ruộng nhỏ bên núi. Khác với ông cha xưa người thái hiện nay chủ yếu trồng lúa tẻ thay cho lúa nếp. Hình thức trồng một năm hai vụ lúa khá thuần thục và đạt năng xuất khá cao với nhiều giống lúa mới. ngoài việc trồng lúa ở ruộng, người Thái ở Mường Tè xã cũng có làm nương. Trên nương đồng bào trồng ngô, sắn, đậu, khoai. Ngoài việc cấy trồng đồng bào rất chú ý phát triển kinh tế trong việc chăn thả: gà, vịt, ngan, trâu, bò, dê, cá.

  • Nghề trồng bông dệt vải

Trước đây là nghề này phổ cập trong mỗi gia đình người Thái ở Mường Tè. Nhưng hiện nay nghề này đã biến đổi rõ nét. Có rất ít gia đình ở đây còn trồng bông và nếu có cũng chỉ với số lượng rất ít để chế tác một vài sản phẩm cần thiết phục vụ cho việc cưới, việc tang (theo truyền thống). Phần lớn người Thái ở Mường Tè hiện nay thường đi mua sợi để về dệt những sản phẩm tối cần thiết. Trong không ít gia đình người Thái ngày nay không còn khung dệt và cũng có không ít cô gái Thái ngày nay không biết dệt vải, làm sản phẩm từ bông, trồng bông như cha ông họ.

  • Nghề đan

 Nghề đan là công việc thường làm của người đàn ông Thái ở Mường Tè. Nhưng họ chỉ làm ra những sản phẩm phục vụ cho việc sử dụng trong gia đình chứ ít mang tính hàng hóa. Những sản phẩm mà họ làm ra là: rổ, rá, nong, nia, dần, sàng, nơm, lờ, phên, gùi, đăng… Một số đàn ông khéo tay ở dây có thể làm một số nghề thủ công sơ giản khác như: thợ mộc, thợ xây. Họ có thể tạo dựng được những ngôi nhà sơ giản. Những ngôi nhà to, đòi hỏi cầu kì thì đồng bảo ở đây vẫn phải kén thợ, thuê thợ người Kinh.

  • Y phục

Quần áo thường dùng hiện nay của người thái ở mường Tè xã đã và đang có rất nhiều biến đổi so với trước đây. Hầu hết trẻ em, đàn ông người Thái ở Mường Tè hiện nay đều mặc âu phục, theo lối của người Kinh. Phụ nữ Thái trong lao động, sinh hoạt thường ngày cũng mặc theo lối của người Kinh. Trang phục truyền thống thường ngày chỉ thấy người già mặc. Qua khảo sát chúng tôi được biết: trang phục truyền thống chỉ được đồng bào ở đây mặc vào những ngày lễ, tết, Cưới đặc biệt là tang ma.

Đồ dùng trong nhà: chăn, gối, đệm, rèm, màn hiện nay chủ yếu là đồ may sẵn. Tìm hiểu sâu đồng bào cho biết từ khi giao thông, giao thương thuận lợi hàng may sẵn từ đường xuôi đưa lên nhiều: so với những vật dụng truyền thống chúng có giá thành rẻ, kiểu cách, màu sắc lạ, có độ bền cao, sử dụng thuận lợi (nhẹ, mau khô, dễ giặt…). Trên đây là hiện trạng và những lý do đưa đến sự biến đổi trong cách mặc của đồng bào Thái ở Mường Tè xã.

  • Ẩm thực

Đồng bào Thái ở Mường Tè vẫn giữ được truyền thống chế biến các món ăn truyền thống: cá nướng, rau hấp, thịt hấp. xôi đồ… Nét thay đổi cơ bản là xưa kia đồng bào ăn đồ nếp là chính thì nay ăn cơm tẻ là chính. Đồ nếp là món cơm chính nay là món phụ và chỉ xuất hiện nhiều khi có: lễ, tết, ma, cưới. Ngô, khoai, sắn chỉ là món ăn phụ trong ngày của con người, còn lại nó được dùng cho việc chế biến rượu và chăn nuôi gia súc.

Một số món ăn của người Kinh đã và đang được nhiều người ưa thích và thường có mặt trong lễ, tết, cưới và tiếp đãi khách như: giò, chả. Đồ uống: đồng bào vẫn giữ thói quen uống nước trắng và rượu là thứ đồ uống được nhiều người lớn tuổi ưa thích. Hầu hết đàn ông ở đây đều biết uống rượu và có khả năng uống rượu.

  • Phong tục, tập quán, lễ nghi

Cũng như người Thái trắng vùng Tây Bắc Việt Nam người Thái ở Mường Tè xã vẫn còn trong tâm thức tín ngưỡng đa thần giáo. Họ tin vạn vật đều có linh hồn.. Khi chết đi linh hồn biến thành phi như phi hươn (ma nhà), phi đẩn (ma dòng họ). Trong tự nhiên trên trời có then luông. Trong xã hội nơi nào cũng có các phi cai quản như: ma rừng, ma suối, ma nương… từ quan niệm truyền thống cơ bản nêu trên hiện nay trong các gia đình người Thái ở Mường Tè vẫn duy trì phong tục cúng tổ tiên. Hàng năm người thái vẫn tổ chức xên bản, xên mường vào mùa hoa ban nở. Dịp xên bản, xên mường cũng là lúc người Thái Mường Tè tổ chức các cuộc vui chơi, giải trí, nhiều trò chơi truyền thống được tổ chức như: ném còn, đẩy gậy, toong lẹ, xòe, hát đối đáp vv…

Trong vòng một đời người, người Thái ở Mường Tè cũng có nhiều nghi lễ:

  • Khi đứa trẻ ra đời có lễ đặt tên
  • Trai gái lớn lên yêu nhau, tiến tới hôn nhân có lễ hỏi, lễ cưới với nhiều nghi thức mà ở đó vai trò của ông cậu là rất lớn lao.
  • Khi người ta về già, hoặc vì một lý do nào đó mất đi, lễ tang được tiến hành cẩn trọng, công phu với nhiều nghi lễ, kiêng kỵ và vai trò của thầy mo là không nhỏ.

Vài chục năm trở về đây: lễ nghi trong cưới hỏi, tang ma của người Thái đã có một số biến đổi như không còn việc bắn súng để báo tang; việc ở rể không còn hoặc đã được rút ngắn thời gian (trước đây lệ ở rể là từ 7 đến 10 năm, nay chỉ còn 1 năm).

Nhìn chung: phong tục, lễ nghi, tập quán của người thái ở Mường Tè vẫn được bảo tồn ở những yếu tố mang tính căn cốt, có những biến đổi ở một số tiểu tiết, đặc biệt là hình thức tổ chức các lễ nghi đã bớt đi nhiều yếu tố hình thức cồng kềnh, diệu vợi gây nên sự tốn kém tiền bạc.

2.2. Người Giáy

Người Giáy (người Thái gọi tộc người này là người Nhắng) ở Mường Tè có 185 hộ, số dân 770 người cư trú chủ yếu ở hai bản: bản Giẳng và Nậm Củm. Tại bản Giẳng, người Giáy có 344 người chiếm 5/6 số dân cả bản. Tại bản Nậm Củm người Giáy có 282 người chiếm 1/3 số dân của cả bản.

Tiếp cận với người Giáy ở Mường Tè trong cái nhìn thoáng qua, khi không tìm hiểu sâu chúng ta dễ nhầm họ là người Thái với cách tạo dựng không gian sống: từ việc chọn đất lập bản, đến cách làm nhà, cách thức canh tác đều giống cách làm của người Thái. Nhà của người Giáy ở bản Giẳng, bản có tỷ lệ người Giáy cao nhất xã hoàn toàn được tạo dựng theo kiến trúc Thái. Cách phân chia không gian sinh hoạt trong nội thất cũng hoàn toàn như người Thái (mang phong cách Thái).

Ở các lĩnh vực khác:

        - Ngôn ngữ: người Dáy ở Mường Tè chủ yếu nói tiếng Thái. Thế hệ thanh niên và trẻ em ở đây nhiều người không nói được tiếng Giáy.

        - Cách mặc: theo những người cao tuổi thì người Giáy ở đây đã từ lâu mặc theo lối của người Thái, và gần đây cũng như người Thái họ mặc theo lối của người Kinh.

        - Cách ăn uống: cách ăn uống của người Giáy ở Mường Tè mang đậm cách ăn uống của người Thái.

        - Hôn nhân: đã từ nhiều đời người Giáy ở Mường Tè thường kết hôn với người Thái.

Cắt nghĩa cho hiện tượng thoái hóa sâu sắc kể trên của người Giáy ở Mường Tè, nhiều vị cao niên người Giáy ở đây có kể lại truyền thuyết nguồn gốc của người Giáy ở Mường Tè rằng: tổ tiên họ vốn có nguồn gốc ở Trung Quốc. Trên đường di cư một người ở lại Lào, một người đến Việt Nam và họ đã kết hôn với người Thái. Nên thế hệ thứ hai là sự hòa huyết Thái, Giáy. Cứ như thế các thế hệ tiếp sau lại là một sự hòa huyết tiếp nối; dù rằng con cháu họ vẫn mang sắc tộc Giáy. Sống trong một môi trường như vậy nên đến nay văn hóa của người Giáy mang đậm sắc thái văn hóa Thái cũng là lẽ tự nhiên.

Dù mang đậm dấu ấn, sắc thái văn hóa Thái, văn hóa của người Giáy trong vài chục năm trở lại đây cũng đang biến đổi rất nhanh trên nhiều phương diện: cách thức canh tác, cách mặc, phong tục, tập quán, lễ hội vv…

                  Cối giã gạo của người Giáy ở bản Giằng, Mường Tè

2.3.  Người Hà Nhì

Người Hà Nhì ở Mường Tè có 131 người cư trú trong 30 hộ ở Pắc Ma. Người Hà Nhì thuộc các họ: Ly, Bờ… Theo chính quyền địa phương cho biết bộ phận người Hà Nhì ở  Mường Tè có nguồn dốc từ Ka Lăng, Thu Lủm chuyển đến địa phương khoảng vài chục năm gần đây.

Người Hà Nhì ở Mường Tè về cơ bản vẫn giữ nguyên phong tục, tập quán, lễ nghi, cách thức canh tác truyền thống của tộc người mình.

Về canh tác: họ cũng trồng trên những thửa ruộng bạc thang và rất thuần thục trong việc: khai hoang, đào mương, phai dẫn nước. Vào cữ tháng 5, tháng 6 âm lịch là mở đầu một vụ mùa trong năm. Cùng với việc trồng lúa trên các thửa ruộng bậc thang, người Hà Nhì ở Mường Tè rất chú trọng việc gieo, trồng trên nương các loại cây: đậu, sắn, lạc, vừng…  và chăn nuôi, làm các nghề phụ như dệt, thêu, đan lát.

Nét biến đổi của bộ phận người Hà Nhì ở Mường Tè là trong kiến trúc, chúng tôi không thấy kiểu nhà trình tường truyền thống của tộc người này mà thay vào đó là kiểu nhà thưng ván gỗ bao quanh. Hiện đã có một số gia đình làm nhà theo lối nhà sàn của người Thái.

Hàng năm theo chu kỳ thời gian các lễ thức truyền thống vẫn được bảo lưu.

Và trong vòng đời mỗi người các phong tục, lễ nghi trong sinh đẻ, cưới, tang ma vẫn bảo toàn bằng những yếu tố truyền thống căn cốt.

Nhìn chung, Văn hóa truyền thống của cộng đồng cư dân xã Mường Tè, tùy theo từng tộc người có những biểu hiện khác nhau. Đối với người Thái, người Hà Nhì văn hóa truyền thống đang được bảo lưu khá bền vững. Những yếu tố biến đổi chỉ hiện rõ ở cách mặc.

Đối với người Giáy do đặc điểm lịch sử của mình, văn hóa truyền thống của tộc người đã có những biến đổi cơ bản. Hiện tượng Thái hóa đã sâu sắc ở nhiều lĩnh vực: canh tác, kiến trúc, cách mặc, phong tục tập quán, lễ nghi.

(Còn nữa)

Tác giả: Sưu tầm ; xuất bản: 18/05/2016 08:14
Họ tên của bạn
Địa chỉ Email  
Tiêu đề
Nội dung
Mã xác nhận
Gửi nhận xét

Thư viện Video