Đảng - đoàn thể

Định hướng phát triển ngành Điện lực Việt Nam trong giai đoạn 2020-2050

Những năm gần đây Việt Nam đã đẩy mạnh hội nhập sâu rộng hơn với quốc tế và khu vực nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế và tích cực tham gia các hiệp định chống biến đổi khí hậu. Một trong những ngành nghề chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi các cam kết cắt giảm khí nhà kính là ngành năng lượng, mà trong đó ngành điện đóng vai trò chủ yếu. Các cơ chế, chính sách và quy hoạch phát triển ngành điện cũng vì thế phải thay đổi cho phù hợp với định hướng phát triển đất nước trong giai đoạn tới. Việt Nam đã và đang từng bước thực hiện các cam kết của mình với cộng đồng quốc tế khi tỷ lệ năng lượng tái tạo đạt 25,3% tổng công suất toàn hệ thống, vượt rất xa so với kế hoạch đề ra là 4%. Rất nhiều chính sách liên quan đến ngành điện được ban hành và áp dụng để thu hút nguồn vốn đầu tư từ khu vực tư nhân trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng ngành điện đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế đất nước.

1. Hiện trạng phát triển ngành điện

1.1. Cơ cấu nguồn điện

Hiện nay điện năng từ nhiệt điện đốt than chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng công suất lắp đặt trên hệ thống với 31%, theo sau đó là thủy điện, các nguồn năng lượng tái tạo, và nhiệt điện tuabin khí với các tỷ lệ tương ứng là 30%, 25,3%, và 10,3%. Phần còn lại đến từ các nguồn điện dầu, nhập khẩu và các nguồn khác. Thời gian gần đây, ngành điện đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện mặt trời. Tỷ trọng các nguồn năng lượng tái tạo đã tăng từ mức không đáng kể lên đến ¼ tổng công suất lắp đặt toàn hệ thống. Tuy nhiên, điện năng phát ra từ các nguồn này vẫn chiếm một phần rất khiêm tốn, chỉ khoảng 4,3% tổng sản lượng do khả năng huy động công suất vào giờ cao điểm không cao gây khó khăn cho việc điều tiết và ổn định hệ thống điện. Do vậy, nhìn chung trong tương lai gần nguồn cung điện năng cho nền kinh tế vẫn chủ yếu phụ thuộc lớn vào thủy điện và nhiệt điện (đốt than, chạy dầu và khí). Với việc Việt Nam tham gia nhiều hơn vào các hiệp định chống biến đổi khí hậu của quốc tế, các nhà máy điện đốt than vốn phát thải rất nhiều khí nhà kính và gây hại cho sức khỏe con người đang dần bị xem xét cắt giảm khỏi quy hoạch điện quốc gia và thay bằng các nhà máy nhiệt điện khí thiên nhiên và khí thiên nhiên hóa lỏng. Tuy nhiên vấn đề này không thể thay đổi ngay trong một sớm một chiều được mà đòi hỏi phải có giải pháp đồng bộ, phải được nghiên cứu và đánh giá kỹ lưỡng với nhiều kịch bản phát triển khác nhau.

1.2. Cơ cấu của ngành điện tại Việt Nam

Là một nước đang phát triển, Việt Nam là một trong số ít quốc gia thực hiện thành công chương trình điện khí hóa nông thôn với 100% số xã và hơn 99% số hộ gia đình được tiếp cận lưới điện quốc gia (theo Báo cáo thường niên EVN, 2018). Hiện nay, người dân đã có thể thoải mái sử dụng điện lưới ở bất kỳ đâu với giá cả phải chăng và tương đối thấp so với một số quốc gia trong khu vực Đông Nam Á. Tuy nền kinh tế được vận hành theo cơ chế thị trường, giá bán điện hiện nay vẫn được điều chỉnh bởi Nhà nước. Vì vậy, ngành điện vẫn thường bị coi là thiếu tính cạnh tranh trong tất cả các khâu và đòi hỏi phải có những thay đổi căn bản và toàn diện. Để giải quyết vấn đề trên, chính phủ đã triển khai nhiều chương trình dài hạn để tạo dựng một thị trường điện cạnh tranh hoàn chỉnh bao gồm ba giai đoạn: (i) Vận hành thị trường phát điện cạnh tranh (CGM), (ii) Vận hành thị trường bán buôn điện cạnh tranh (EWM), và (iii) Vận hành thị trường bán lẻ điện cạnh tranh (VREM) với lộ trình vận hành cả 3 thị trường chậm nhất là cuối năm 2023.

Giai đoạn đầu được thử nghiệm vào năm 2012 và chính thức vận hành đầy đủ từ năm 2015. Với sự ra đời của CGM, công đoạn sản xuất điện bây giờ đã bao gồm nhiều thành phần trong đó EVN đóng vai trò là một bên tham gia cạnh tranh phát điện bao gồm: (a) thành phần thứ nhất bao gồm ba tổng công ty phát điện lớn của EVN là GENCO 1, GENCO2, và GENCO3 được thành lập từ việc sắp xếp lại một loạt các nhà máy điện được đầu tư và vận hành bởi EVN trước đây; (b) thành phần thứ hai bao gồm các nhà đầu tư BOT đến từ các tập đoàn nhà nước khác (như PVN, Vinacomin), và (c) thành phần thứ ba bao gồm các nhà đầu tư khác đến từ khu vực tư nhân. Ba thành phần này sẽ tham gia độc lập với nhau trong quá trình đấu thầu bán điện cho EVN - người mua duy nhất trên thị trường với mức giá được thỏa thuận bởi một hợp đồng mua bán điện ký kết giữa bên bán và EVN. Các thành phần này sẽ cùng cạnh tranh với nhau để bán lượng điện mà họ sản xuất ra tại cùng một thời điểm với một cơ chế cạnh tranh bình đẳng dưới sự điều tiết của Cục điều tiết điện lực. Giai đoạn 2 đã kết thúc quá trình thử nghiệm vào năm 2019 và đang trong quá trình triển khai thực hiện vận hành và dự kiến sẽ vận hành đầy đủ vào năm 2021. Giai đoạn ba được kỳ vọng sẽ triển khai vận hành vào năm 2023 sau khi kết thúc thử nghiệm vào năm 2021.

Song song với việc đưa vào vận hành 3 thị trường điện cạnh tranh, EVN cũng đang gấp rút hoàn tất việc thoái một phần vốn nhà nước tại các tổng công ty phát điện và các công ty điện lực để đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước nhằm tận dụng tối đa nguồn lực tài chính từ xã hội. Có thể thấy rằng Chính phủ đã chỉ đạo rất sát sao trong việc tái cấu trúc hoạt động của ngành điện nói chung và EVN nói riêng. Trong bối cảnh nợ quốc gia tăng cao và thiếu vốn đầu tư trong khi nhu cầu phát triển điện năng cho phát triển kinh tế là rất lớn. Việc xây dựng và vận hành các thị trường điện cạnh tranh có ý nghĩa to lớn trong việc giúp ngành điện tập trung vào công tác quản lý, truyền tải và điều tiết đồng thời huy động mạnh mẽ hơn các nguồn lực từ khối xã hội. Chúng ta hoàn toàn đủ cơ sở để kỳ vọng trong một tương lai không xa thị trường mua bán điện sẽ trở nên sôi động và cạnh tranh hơn. Các công ty mua bán điện sẽ phải tính toán cân đối chi phí để bán điện và không ngừng nâng cao dịch vụ để giữ chân khách hàng. Lúc đó người tiêu dùng ở Hà Nội cũng có thể tự do lựa chọn nhà cung cấp điện ở TP Hồ Chí Minh với giá cả phải chăng và tuân theo quy luật thị trường giống như đã từng diễn ra đối với ngành viễn thông thời gian trước đây.

1.3. Những khó khăn và thách thức

Thách thức lớn nhất hiện nay là giá điện được quy định bởi Nhà nước, không tuân theo quy luật thị trường và luôn được giữ ở một mức tương đối thấp so với một số quốc gia trong khu vực để nhằm thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài và đảm bảo khả năng tiếp cận của đại bộ phận nhân dân. Điều này vô hình chung đã khiến Việt Nam trở thành một quốc gia tiêu thụ điện năng thuộc vào hàng cao khi mà dòng vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài ngày một tăng nhằm mục đích thu lợi lớn từ chính sách giá điện thấp cũng như nguồn lao động giá rẻ. Hơn nữa, Việt Nam cũng là một trong các quốc gia có cường độ sử dụng năng lượng tương đối cao so với các nước khác. Ngoài ra, sự yếu kém trong quản lý và phức tạp trong thủ tục cấp phép xây dựng cũng là một trong những nguyên nhân gây cản trở sự phát triển. Điều này làm cho nền kinh tế của Việt Nam trở nên kém cạnh tranh hơn trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

2. Sự phát triển của năng lượng tái tạo

2.1. Năng lượng mặt trời

Với việc ban hành một loạt các cơ chế ưu đãi để khuyến khích phát triển năng lượng tái tạo, hàng loạt các dự án điện mặt trời đã được phê duyệt. Tính đến cuối tháng 01/2019, tổng công suất lắp đặt của các dự án điện mặt trời ghi nhận được khoảng 84 MW. Tuy nhiên, chỉ trong vòng hai năm triển khai chính sách ưu đãi, đến 31/12/2020 con số này đã tăng vọt lên gần 16.500 MW, chiếm khoảng 25,3% tổng công suất nguồn của toàn hệ thống. Thành công ngoài mong đợi của chính sách ưu đãi đã góp phần bổ sung vào hệ thống điện quốc gia một nguồn phát mới. Tuy nhiên, việc phát triển nóng và đột ngột của điện mặt trời đã dẫn đến quá tải cục bộ đường dây truyền tải điện tại một số vị trí. Một loạt các dự án đã phải cắt giảm công suất phát lên lưới để chờ đợi hoàn thiện đường dây truyền tải mới (thường sẽ mất khoảng tầm 3 đến 5 năm mới xây dựng xong). Vì vậy, việc sớm ban hành các quy định tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện cho khối tư nhân được tham gia đầu tư đường dây truyền tải mới là cần thiết để giảm thiểu thời gian chờ đợi và tránh gây lãng phí do cắt giảm công suất.

2.2. Tình hình phát triển điện gió

Bên cạnh tiềm năng về phát triển điện mặt trời, Việt Nam cũng là một trong các quốc gia có thế mạnh trong phát triển điện gió (GIZ, 2016). Tuy nhiên, do chi phí đầu tư cao, việc phát triển loại hình năng lượng này vẫn còn khá khiêm tốn. Cho đến cuối tháng 3/2020 mới chỉ có 11 dự án với tổng công suất lắp đặt là 377 MW đưa vào vận hành. Tuy nhiên, số lượng các dự án đã và đang được phê duyệt khá cao, với 78 dự án đã được đưa vào quy hoạch (với tổng công suất lên đến 4.880 MW) và 31 dự án (tổng công suất 1.662 MW) đang chờ được phê duyệt. Đặc biệt, số dự án đang chờ được nộp đơn phê duyệt là rất cao, đến 250 dự án với tổng công suất lên đến 45.000 MW. Tuy nhiên, do một số nguyên nhân về dữ liệu đo gió chưa đầy đủ, chi phí đầu tư ban đầu khá cao, thủ tục phê duyệt kéo dài, thiếu kinh nghiệm trong việc cấp vốn để thực hiện các dự án điện gió khiến loại hình năng lượng này vẫn chưa được phát triển xứng với tiềm năng (GIZ, 2016). Trong tương lai, nếu có đầy đủ nguồn lực về công nghệ và tài chính, điện gió có thể trở thành một nguồn cung cấp rất lớn cho hệ thống điện quốc gia, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng và phát triển kinh tế.

2.3. Sự phát triển năng lượng sinh khối

Là một nước xuất khẩu đường hàng đầu trên thế giới, Việt Nam hoàn toàn có lợi thế cho việc phát triển năng lượng sinh khối bằng các nhà máy điện đồng phát nhiệt. Với sự phong phú các cánh đồng mía đường, năng lượng sinh khối theo ước tính có thể đạt đến tiềm năng 737 MW và cung cấp khoảng 4.300 GWh điện hàng năm từ ngành mía đường (theo GIZ, 2018). Tuy nhiên, do giá bán điện từ loại hình sinh khối hiện nay vẫn chưa cao (7,03 cents/kWh) nên các doanh nghiệp mía đường vẫn chưa chủ động đầu tư nhiều vào loại hình này.

3. Các đề xuất cho chính sách phát triển bền vững ngành điện

Trên phương diện phát triển tổng thể, theo nghị quyết tại Hiệp định Paris năm 2015 về biến đổi khí hậu, những cam kết của Việt Nam về cắt giảm sự phát thải của khí nhà kính đã được đưa vào Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoan 2011 – 2020 có xét đến năm 2030 (Quy hoạch VII điều chỉnh). Trong quy hoạch này, năng lượng tái tạo (không bao gồm thủy điện) ở năm 2020 được xác định chiếm khoảng 4% tổng công suất toàn hệ thống. Con số này sẽ tăng lên đến 15% vào năm 2030 và 33% vào năm 2050. Bên cạnh đó, hiệu suất sử dụng năng lượng cũng được xem là một trong những thước đo việc cắt giảm tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch bằng việc thiết lập mức tiết kiệm từ 5 đến 7% tổng nhu cầu sử dụng điện. Tỷ lệ này còn được kỳ vọng nâng lên đến 8 hoặc 10% vào năm 2030. Ngoài ra, Chính phủ cũng sẽ dồn nhiều nỗ lực hơn nữa trong việc phát triển các công nghệ năng lượng xanh nhằm đạt tốc độ tăng trưởng công nghệ xanh từ 10 đến 20% vào năm 2020 và từ 20 đến 30% vào năm 2030. Cũng theo Quy hoạch điện này, tổng công suất các nhà máy điện dự kiến phải đạt 96.500 MW vào năm 2025 và 129.500 MW vào năm 2030. Tuy nhiên, cho đến thời điểm này tổng công suất lắp đặt của toàn hệ thống mới chỉ đạt 69.300 MW. Do đó, nhu cầu tăng trưởng của nguồn điện tối thiểu phải lớn hơn tốc độ tăng trưởng của GDP (7,85% trong 5 năm và 8,69% trong 10 năm tới). Điều này gây áp lực không nhỏ lên ngành điện trong việc cung cấp đủ điện năng cho phát triển kinh tế. Để nhanh chóng giải quyết vấn đề này, cần thực hiện một vài bước đi như sau:

Thứ nhất, luật Điện lực hiện nay quy định nhà nước độc quyền trong truyền tải và điều độ hệ thống điện quốc gia để đảm bảo an ninh năng lượng. Tuy nhiên, thời gian tới kiến nghị bổ sung cho phép xã hội hóa theo hình thức xây dựng – chuyển giao (BT) để tạo điều kiện cho việc thu hút các nguồn lực xã hội tham gia vào ngành điện. Bằng việc ban hành các cơ chế cởi mở hơn sẽ có tác dụng khuyến khích khối tư nhân đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ngành điện (như đường dây truyển tải và phân phối) giúp rút ngắn thời gian đầu tư và san sẻ gánh nặng cho ngành điện. Tạo điều kiện giải tỏa công suất phát ra của các dự án điện được xây dựng trong tương lai.

Thứ hai, tăng tốc quá trình thành lập và vận hành thị trường điện cạnh tranh đặc biệt là ở khâu sản xuất và phân phối nhằm tối đa hóa hiệu quả kinh tế và lợi ích cho khách hàng. Với một thị trường điện cạnh tranh hoàn chỉnh, gánh nặng cung cấp đủ điện năng cho nền kinh tế được san sẻ sang cho bớt cho khối tư nhân, giúp giảm nợ công và hạn chế tiêu cực. Ngoài ra, cần phải cân nhắc áp dụng giá điện theo cơ chế thị trường và thành lập một cơ quan độc lập để xác định biểu giá điện nhằm đảm bảo công khai, minh bạch trong thị trường, tạo sân chơi bình đẳng và ổn định trong sản xuất và kinh doanh điện năng.

Cuối cùng, cần tập trung vào cải cách toàn diện hệ thống giáo dục vốn đã lỗi thời trong đó chú trọng đào tạo công nhân có kỹ năng lành nghề, chuyên gia có kiến thức vững vàng đáp ứng các chuẩn mực quốc tế để đảm bảo thỏa mãn yêu cầu của các công ty nước ngoài khi đất nước ngày một hội nhập sâu rộng hơn với quốc tế. Góp phần vào tăng khả năng cạnh tranh của thị trường và chủ động lĩnh hội các công nghệ và kỹ thuật tiên tiến cho sự phát triển của đất nước, nhất là các công nghệ liên quan đến ngành năng lượng nói chung và ngành điện nói riêng.

4. Kết luận

Về cơ bản, nhiệm vụ phát triển ngành điện Việt Nam trong giai đoạn 2020 - 2050 sẽ trở khó khăn hơn rất nhiều khi chúng ta vừa phải đảm bảo cung cấp điện năng cho phát triển kinh tế đồng thời phải tuân thủ quy ước quốc tế về cắt giảm sự phát thải khí nhà kính. Nhìn chung, các thay đổi cơ bản trong cơ cấu nguồn điện của Việt Nam trong thời gian tới chủ yếu sẽ tập trung vào các nhiệm vụ chính như sau: (1) Đẩy mạnh phát triển các nguồn năng lượng tái tạo để giảm dần sự phụ thuộc vào các nguồn nhiệt điện; (2) Từng bước cắt giảm các dự án nhiệt điện sử dụng than và thay khí thiên nhiên hóa lỏng; (3) Nhanh chóng đưa vào vận hành thị trường điện cạnh tranh hoàn chỉnh nhằm thu hút đầu tư từ nước ngoài và khối kinh tế tư nhân; (4) Tiếp tục đẩy mạnh việc thoái vốn nhà nước bằng hình thức cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là trong ngành điện; (5) Thay đổi các quy định pháp luật liên quan đến quá trình đầu tư cơ sở hạ tầng ngành điện nhằm thu hút các nguồn lực tài chính từ xã hội; (6) Cải tiến công nghệ để nâng cao hiệu quả sử dụng điện để nâng cao tính cạnh tranh trên trường quốc tế.

Tham khảo

DEVI. (2020). Solar energy update. DEVI Renewable Energies. https://devi-renewable.com/news/cap-nhat-so-lieu-dien-mat-troi-ap-mai-thang-2-nam-2020/

EREA&DEA. (2019). Vietnam Energy Outlook Report 2019. 100. http://vepg.vn/custom_events/viet-nam-energy-outlook-2019/

EVN. (2018). Vietnam Electricity Annual Report 2018. https://www.evn.com.vn/userfile/User/tcdl/files/2019/8/EVNAnnualReport2018(1).pdf

GIZ. (2016). Wind Power Investment Guidelines Volume 1. 1. http://gizenergy.org.vn/media/app/media/Volume 1_2410.pdf

GIZ. (2018). Sweetening the Deal for Biomass Energy in Viet Nam’s Sugar Industry. November. https://gggi.org/site/assets/uploads/2018/12/Biomass-report-10.12.pdf

Government of Vietnam. (2015). Intended Nationally Determined Contribution of Viet Nam, Submission to UNFCCC. 11. http://www4.unfccc.int/submissions/INDC/Published Documents/Viet Nam/1/VIETNAM’S INDC.pdf

GSO. (2019). The Viet Nam Population and Housing Census 2019. 1–45. https://www.gso.gov.vn/default_en.aspx?tabid=515&idmid=5&ItemID=19281

JBES. (2020). Wind energy development: Anxiety of Investors. http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/phat-trien-dien-gio-nha-dau-tu-con-nhieu-ban-khoan-322423.html

Tác giả: Tô Bá Thành - P.KTKH ; xuất bản: 31/01/2021 02:01
Họ tên của bạn
Địa chỉ Email  
Tiêu đề
Nội dung
Mã xác nhận
Gửi nhận xét

Thư viện Video